
Có những thời điểm, một nghị quyết không chỉ tạo ra những chính sách mới mà còn mở ra một cách nhìn mới về con đường phát triển của đất nước. Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị là một nghị quyết như vậy.
Trong gần bốn mươi năm đổi mới, Việt Nam đã thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài. Khu vực FDI trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Nhưng khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi.
Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng.
Đó cũng là tinh thần xuyên suốt trong các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và cũng là chủ đề của cuộc tọa đàm do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức chiều 7/8.
Tọa đàm tập trung giải đáp bốn câu hỏi lớn: Vì sao Việt Nam phải thay đổi tư duy về FDI? Việt Nam đang lựa chọn mô hình FDI nào? FDI phải tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế Việt Nam? Điều gì quyết định thành công của Nghị quyết 10?
Đó cũng chính là logic phát triển được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh: Thay đổi tư duy để thay đổi mô hình phát triển, và thay đổi mô hình phát triển để nâng cao năng lực quốc gia.
Các vị khách mời tham dự Tọa đàm gồm:
– Ông Lê Quang Hoà, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên;
– Ông Phan Đức Hiếu, Uỷ viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội;
– Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính;
– Ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam.
– TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, điều phối chương trình.
NHÓM VẤN ĐỀ 1: VÌ SAO VIỆT NAM PHẢI THAY ĐỔI TƯ DUY VỀ FDI?
TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thể hiện tư duy rất mới trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Mọi cuộc cải cách đều bắt đầu từ một sự thay đổi trong cách nhìn nhận vấn đề. Vậy, điều gì đã thay đổi trong bối cảnh phát triển của Việt Nam và của thế giới để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 vào thời điểm này? Vì sao chúng ta phải chuyển từ tư duy “thu hút FDI” sang tư duy “kiến tạo hệ sinh thái FDI chất lượng cao”? Trong phần đầu của chương trình tọa đàm hôm nay, chúng ta sẽ tập trung làm rõ những câu hỏi cốt lõi này.
Trước hết, xin được gửi câu hỏi đến bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính – cơ quan chủ trì chắp bút trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, được đánh giá là bước ngoặt mở ra tư duy mới cho khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Dưới góc độ quản lý của Bộ Tài chính, theo bà đâu là những điểm mới cốt lõi và mang tính đột phá nhất của Nghị quyết này?

Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính: Trong hơn 40 năm qua, FDI đã mang lại nhiều tác động rất tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, thực tiễn vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập, đặc biệt là những vấn đề mới đặt ra trong bối cảnh và giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế.
Hơn 40 năm qua, chính sách thu hút FDI là một chiến lược hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đã giúp huy động được nguồn lực rất lớn cho quá trình phát triển đất nước. Mặc dù vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động này vẫn còn những hạn chế, nhất là tính lan tỏa đối với khu vực kinh tế trong nước. Bước sang giai đoạn mới, khi cạnh tranh chiến lược đang rất áp lực, cùng với sự bứt phá mạnh mẽ của khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nước là phải có bước đổi mới căn bản trong mô hình phát triển.
Trong bối cảnh đó, việc phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ dừng lại ở việc thu hút được nhiều hơn về quy mô vốn như giai đoạn trước, mà phải hướng tới việc nâng cao chất lượng, hiệu quả, đặc biệt là kết hợp chặt chẽ giữa nguồn lực nước ngoài với nguồn lực trong nước nhằm gia tăng nội lực của nền kinh tế.
Xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Từ góc độ của Bộ Tài chính – cơ quan chủ trì chắp bút xây dựng đề án để báo cáo Đảng ủy Chính phủ trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết này, chúng tôi đánh giá Nghị quyết số 10-NQ/TW có 6 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển:
Thứ nhất, chuyển đổi từ tư duy “thu hút đầu tư nước ngoài” sang tư duy “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Nghị quyết đã tiếp cận một cách toàn diện và bao quát hơn, bao gồm cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, các thiết chế tài chính quốc tế, đồng thời coi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hợp thành hữu cơ của nền kinh tế quốc dân.
Thứ hai, chuyển từ coi trọng quy mô, số lượng vốn sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Nếu như trong giai đoạn đầu, kết quả thu hút đầu tư nước ngoài chủ yếu được đánh giá thông qua số lượng dự án và tổng số vốn thu hút, thì trong bối cảnh mới, thu hút vốn vẫn cần thiết nhưng không còn là yếu tố duy nhất. Quan trọng hơn là dòng vốn đầu tư khi vào trong nước tạo ra tác động lan tỏa như thế nào đối với khu vực kinh tế nội địa, mang lại kết quả gì cho doanh nghiệp trong nước và đóng góp ra sao cho tổng thể nền kinh tế. Đây là yêu cầu có ý nghĩa ngày càng quyết định đối với nền kinh tế.
Thứ ba, thay đổi căn bản về cơ chế và tư duy ưu đãi đầu tư của Nhà nước. Trước đây, chính sách ưu đãi chủ yếu tập trung theo cách thức truyền thống, như ưu đãi theo ngành, lĩnh vực ưu tiên hoặc theo địa bàn khó khăn. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các chính sách ưu đãi truyền thống đó không còn đủ sức hấp dẫn để thu hút các dòng vốn chất lượng cao, FDI thế hệ mới. Theo định hướng của Nghị quyết số 10-NQ/TW, chính sách ưu đãi trong thời gian tới phải gắn liền với kết quả đầu ra. Ưu đãi phải dựa trên đóng góp thực tế của dòng vốn đối với nền kinh tế, như mức độ lan tỏa, công nghệ hiện đại, khả năng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước; tránh tình trạng dòng vốn vào nhưng vận hành biệt lập, tạo thành hiện tượng “2 nền kinh tế trong một nền kinh tế”.
Thứ tư, chuyển từ việc thu hút các dự án FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái gắn kết với các dòng vốn quốc tế. Dòng vốn FDI hiện nay không vận hành độc lập mà phải kết nối đồng bộ với các dòng vốn gián tiếp và các nguồn vốn quốc tế khác thông qua các mô hình phát triển mới như trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do hay các khu kinh tế đặc biệt. Điều này không chỉ giúp thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn mà còn giúp phân bổ lại nguồn lực, tối ưu hóa sự phát triển của nền kinh tế.
Thứ năm, chuyển từ tư duy “quản lý đầu tư” sang “kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh”. Trong những năm trước, quản lý dòng vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào việc bảo đảm không vi phạm pháp luật, tuân thủ đúng các quy định hiện hành, bảo đảm an ninh, an toàn và môi trường. Trong giai đoạn mới, bên cạnh việc quản lý tuân thủ pháp luật, cơ quan quản lý phải kiến tạo môi trường thuận lợi để dòng vốn ngoại kết hợp hiệu quả với dòng vốn nội, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn. Muốn vậy, chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng các yếu tố nền tảng như hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường kinh doanh, năng lực quản trị và thể chế. Chỉ khi chuẩn bị đầy đủ các yếu tố này, dòng vốn chất lượng cao mới có thể phát huy tối đa hiệu quả.
Thứ sáu, khắc phục triệt để tình trạng “cạnh tranh xuống đáy” giữa các địa phương trong thu hút đầu tư và bảo đảm công tác điều phối phát triển các dòng vốn ở tầm quốc gia. Yêu cầu đặt ra là phải phân bổ và điều phối hài hòa dòng vốn vào đúng những khu vực, ngành nghề thực sự có nhu cầu, bảo đảm sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng, miền trong bối cảnh mới.
Tóm lại, thông điệp cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW là sự chuyển đổi về mục tiêu: không chỉ dừng lại ở việc huy động nguồn vốn đong đếm bằng số lượng dự án, mà quan trọng là huy động và kết nối nguồn lực quốc tế với nội lực nền kinh tế, nhằm kiến tạo năng lực phát triển mới cho kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Đó chính là thông điệp trọng tâm mà Nghị quyết số 10-NQ/TW muốn gửi tới các nhà đầu tư.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Như vậy, điều thay đổi đầu tiên không phải là chính sách ưu đãi, mà là tư duy phát triển. Từ góc độ hoạch định chính sách, ông Phan Đức Hiếu đánh giá như thế nào về sự chuyển dịch tư duy này? Theo ông, Nghị quyết 10 đóng vai trò như thế nào trong chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045?

Ông Phan Đức Hiếu, Uỷ viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội: Câu hỏi này có thể nói là cùng một nội dung nhưng được tiếp cận dưới hai góc độ khác nhau. Với tư cách là một Đại biểu Quốc hội đồng thời là một nhà nghiên cứu, tôi có góc nhìn về những yếu tố mang tính bản chất, những nội dung không hoàn toàn thể hiện bằng chữ viết cấu thành nên nghị quyết này.
Đầu tiên, chúng ta cần nhìn lại quá trình phát triển. Năm 2019, chúng ta có Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Theo tôi, đó là một bước ngoặt quan trọng trong việc thay đổi tư duy về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong đó, Nghị quyết đã bắt đầu nhấn mạnh việc thu hút đầu tư nước ngoài có chất lượng cao và thúc đẩy sự hợp tác giữa khu vực đầu tư nước ngoài với khu vực đầu tư trong nước.
Quay trở lại thời điểm hiện tại, 6-7 năm sau, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. So sánh Nghị quyết số 10-NQ/TW với lần thay đổi tư duy gần đây nhất của chúng ta, có thể thấy nghị quyết này mang những điểm thực sự đột phá và thay đổi sâu sắc. Trước hết, tôi hoàn toàn nhất trí với 6 điểm thay đổi cơ bản như chị Thủy đã liệt kê. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh một số khía cạnh quan trọng.
Thứ nhất, Nghị quyết số 10-NQ/TW kế thừa rất nhiều mục tiêu và giải pháp đã được đề ra trong Nghị quyết số 50-NQ/TW, đồng thời bổ sung nhiều nội dung mới rất quan trọng. Điều quan trọng nhất theo tôi chính là sự thay đổi hoàn toàn về cách tiếp cận. Tư duy cốt lõi ở đây nằm ở phương pháp tiếp cận, và 6 điểm thay đổi khác biệt như chị Thủy đã liệt kê có thể được tôi khái quát hóa lại thành 4 đặc trưng: Một là, chúng ta tiếp cận một cách bài bản và hệ thống hơn. Hai là, tư duy của chúng ta trở nên sâu sắc và thực tế hơn. Tôi xin phân tích kỹ hơn về 4 đặc tính này nhằm khái quát trọn vẹn 6 điểm khác biệt mà chị Thủy đã đề cập.
Tại sao lại khẳng định cách tiếp cận lần này là bài bản và hệ thống?
Tôi xin nhấn mạnh lại rằng lần này chúng ta xác định rất rõ ràng việc thu hút cả dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII). Đó là một cách tiếp cận rất hệ thống. Điểm thứ hai thể hiện tính bài bản và hệ thống là: Mấu chốt của chúng ta lần này trong việc thu hút đầu tư nước ngoài là xây dựng một hệ sinh thái thuận lợi cho các hoạt động đầu tư nước ngoài. Tức là chúng ta nhìn nhận toàn bộ vòng đời hoạt động của dự án đầu tư nước ngoài, từ giai đoạn xúc tiến, thu hút đầu tư ban đầu cho đến suốt quá trình vận hành, hoạt động sau này, tất cả phải dựa trên một hệ sinh thái đồng bộ. Như vậy, chúng ta thể hiện tính bài bản.
Chúng ta phát triển một hệ sinh thái toàn diện, bao gồm cả môi trường sống, môi trường công tác, nguồn nhân lực, hạ tầng cứng và hạ tầng mềm. Chúng ta không chỉ chú trọng ở khâu gia nhập thị trường mà chú trọng đến toàn bộ vòng đời của hoạt động đầu tư nước ngoài.
Trước đây, tính bài bản và hệ thống này có sự khác biệt rất lớn. Như chị Thủy đã nêu, trước đây chúng ta chủ yếu thu hút đầu tư thông qua các biện pháp chính sách ưu đãi ở khâu gia nhập thị trường và công cụ chủ yếu là chính sách ưu đãi đơn thuần. Hiện nay, cách tiếp cận của chúng ta đã trở nên rất bài bản và hệ thống. Đó là đặc điểm thứ nhất.
Đặc điểm thứ hai tôi muốn phân tích là tại sao tư duy của chúng ta lại sâu sắc và thực tế hơn? Lý do là vì chúng ta không thể thu hút đầu tư mãi mãi chỉ bằng một công cụ duy nhất là ưu đãi. Muốn nâng cao chất lượng của dòng vốn FDI thì mấu chốt quan trọng nhất là chúng ta phải nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế. Dòng vốn FDI tốt sẽ không tự động lan tỏa nếu như chúng ta thiếu đi năng lực hấp thụ.
Lần này, tư duy của Đảng thể hiện rất sâu sắc và thực tế. Điều này thể hiện qua việc nhận thức rõ dòng vốn FDI không tự nhiên lan tỏa được, hoặc sự lan tỏa sẽ rất hạn chế nếu chúng ta không có khả năng hấp thụ. Cho nên, lần này chúng ta tiếp cận bằng một loạt giải pháp nhằm nâng cao năng lực hấp thụ của nước chủ nhà, đặc biệt là nâng cao chất lượng của khu vực doanh nghiệp trong nước và hoàn thiện hạ tầng cho phát triển sản xuất kinh doanh, từ đó gia tăng độ sẵn sàng trong việc hợp tác với khu vực đầu tư nước ngoài.
Tại sao chúng ta lại sâu sắc? Là vì nếu chúng ta nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế và của khu vực doanh nghiệp trong nước, đặt trong bối cảnh thu hút FDI sẽ rất phù hợp vì làm tăng sự sẵn sàng và khả năng hấp thụ. Nhưng ngay cả khi đặt ra ngoài bối cảnh FDI, việc này cũng vô hình trung giúp chúng ta nâng cao năng lực tự chủ, tinh thần tự lực, tự cường trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây rõ ràng là một tư duy rất sâu sắc.
Trong mọi hoàn cảnh, đây có thể gọi là giải pháp “một mũi tên trúng nhiều mục tiêu”. Vì vậy, điểm đầu tiên tôi muốn khái quát hóa là tư duy lần này của chúng ta rất bài bản, hệ thống, sâu sắc và thực tiễn.
Về vấn đề Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ đóng góp như thế nào vào chiến lược phát triển của đất nước? Điều này được thể hiện qua hai biểu hiện rất rõ ràng:
Thứ nhất, chủ trương xuyên suốt của chúng ta là phát huy tối đa mọi nguồn lực và mọi thành phần kinh tế đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Nếu chúng ta gia tăng chất lượng của hoạt động đầu tư nước ngoài thì rõ ràng chúng ta sẽ phát huy tốt hơn nguồn lực quan trọng này.
Thứ hai, nếu chúng ta hoàn thành các mục tiêu do Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra thì không chỉ thu hút được dòng vốn FDI có chất lượng mà chúng ta còn hấp thụ được năng lực từ khu vực đầu tư nước ngoài, qua đó nâng cao và thúc đẩy năng lực nội tại của nền kinh tế.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Năng lực nội tại của nền kinh tế và của khu vực doanh nghiệp trong nước chính là nền tảng cốt lõi cho mục tiêu xây dựng và phát triển mô hình kinh tế mới theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW mà chúng ta đã đặt ra. Đó là mô hình kinh tế có hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập. Hãy hình dung rằng, việc nâng cao chất lượng của bản thân dòng vốn FDI, tạo tác động lan tỏa, tăng cường sự hợp tác cũng như thúc đẩy gia tăng nội lực của nền kinh tế sẽ đóng góp trực tiếp và thiết thực vào chiến lược phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Như vậy, tôi nhận thấy Nghị quyết số 10-NQ/TW lần này đã thay đổi hoàn toàn về cách tiếp cận và tư duy phát triển. Dù kế thừa nhiều mục tiêu, quan điểm và giải pháp từ trước, nhưng nghị quyết này đã tạo ra sự thay đổi lớn về cả chất và lượng so với các nghị quyết trước đây.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Các hệ thống, tính toàn diện, chỉ rõ tầm ảnh hưởng đến chiến lược, chặng đường phát triển của đất nước ta trong giai đoạn từ năm 2030 đến năm 2045. Nếu chúng ta kiên định đi theo định hướng chiến lược này, năng lực nội tại của nền kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ được nâng cao mạnh mẽ. Thực tiễn kinh nghiệm từ Trung Quốc và một số quốc gia cũng đã chứng minh rõ nét bài học này. Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài không đơn thuần chỉ dừng lại ở mục tiêu gia tăng số lượng dự án, giải quyết việc làm hay tăng thu ngân sách nhà nước, mà cốt lõi là phải đạt được sự chuyển giao công nghệ tiên tiến và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Qua đó, năng lực tổng hợp và sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế trên trường quốc tế mới được tăng cường bền vững – đây là yếu tố mang tính quyết định.
Xin được đặt câu hỏi mang tính chất thực tiễn hơn, gắn với địa phương đối với ông Lê Quang Hoà, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên. Tư duy mới phải được hiện thực hóa bằng hành động mới. Địa phương là nơi kiểm nghiệm rõ nhất chất lượng của chính sách. Nếu trước đây các địa phương cạnh tranh bằng quỹ đất, ưu đãi và chi phí, thì trong giai đoạn mới Hưng Yên sẽ cạnh tranh bằng những giá trị gì để thu hút các nhà đầu tư chiến lược?

Ông Lê Quang Hoà, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên: Kể từ ngày 1/7/2025, cùng với các địa phương trên cả nước thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, việc hợp nhất tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình đã mở ra một không gian phát triển hoàn toàn mới, rộng lớn và có tính kết nối cao. Về địa giới hành chính, tỉnh Hưng Yên mới phía bắc tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, phía đông nam tiếp giáp với Biển Đông với chiều dài bờ biển khoảng 54 km. Nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, tỉnh sở hữu quy mô dân số trên 3,6 triệu người và diện tích tự nhiên trên 2.500 km2.
Với vị trí địa-kinh tế đặc biệt thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, tỉnh Hưng Yên xác định mục tiêu trọng tâm là phát triển công nghiệp. Hiện nay, Hưng Yên duy trì vị thế trong nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI trên cả 2 phương diện số lượng doanh nghiệp và tổng vốn đăng ký, cụ thể xếp thứ 8 toàn quốc với gần 1.000 doanh nghiệp FDI đang hoạt động. Đồng thời, tỉnh cũng được đánh giá là một trong 10 địa phương có mức độ hấp dẫn hàng đầu đối với các doanh nghiệp lớn trong cả nước năm 2025.
Quán triệt định hướng phát triển trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, Hưng Yên đã lập quy hoạch và triển khai phát triển trên 100 cụm công nghiệp cùng 67 khu công nghiệp, với quỹ đất công nghiệp dự kiến đưa vào khai thác, sử dụng đến năm 2030 đạt trên 20.000ha. Đáng chú ý, địa bàn tỉnh còn có Khu kinh tế ven biển Thái Bình với dư địa phát triển hết sức to lớn.
Trong bối cảnh chịu áp lực rất lớn về thu hút đầu tư và tối ưu hóa việc khai thác nguồn lực hạ tầng công nghiệp, việc Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW đã mang lại một luồng sinh khí mới cho các địa phương trong cả nước, đặc biệt là đối với Hưng Yên và top 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu về thu hút FDI. Nghị quyết chứa đựng nhiều điểm mới mang tính đột phá về tư duy và cơ chế.
Ngay sau khi thực hiện hợp nhất tỉnh, tại Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ mới lần thứ nhất, tỉnh đã chủ động xác định các động lực tăng trưởng mới. Đối chiếu với Nghị quyết số 10-NQ/TW, tỉnh nhận thấy các định hướng của địa phương hoàn toàn đúng đắn và trùng khớp với chủ trương của Trung ương. Đặc biệt, tỉnh rất tâm đắc với chủ trương cho phép thí điểm mô hình thể chế vượt trội tại một số khu vực động lực, qua đó tạo đòn bẩy thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt mức 2 con số liên tục trong vòng 10 năm theo chỉ đạo của Trung ương.
Thực hiện tinh thần chỉ đạo đó, ngay sau khi Nghị quyết số 10-NQ/TW được ban hành, Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên đã kịp thời cụ thể hóa bằng Kế hoạch số 91/KH-UBND ngày 17/7/2025, đề ra hệ thống giải pháp cơ bản bám sát định hướng của Trung ương. Kế hoạch xác định rõ các nội dung, nhiệm vụ và giải pháp đặc thù gắn liền với điều kiện thực tiễn của tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn mới nhằm nâng cao hiệu quả thu hút nguồn vốn FDI.
Bên cạnh 6 nhóm giải pháp cơ bản nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW, tỉnh Hưng Yên đặc biệt chú trọng phát huy vai trò là một mắt xích quan trọng trong chuỗi liên kết phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp và thu hút dòng vốn FDI. Trọng tâm hàng đầu được tỉnh xác định là tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống hạ tầng công nghiệp. Tỉnh tập trung phát triển các khu, cụm công nghiệp theo định hướng mới, phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 10-NQ/TW về mô hình khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái và khu công nghiệp dịch vụ gắn kết hài hòa với phát triển đô thị và nhà ở cho người lao động.
Một định hướng chiến lược mà Hưng Yên kiên trì triển khai trên cơ sở tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW là không phát triển công nghiệp đơn lẻ, mà luôn gắn kết chặt chẽ phát triển công nghiệp với đô thị, sinh thái, du lịch và nghỉ dưỡng. Tỉnh đang quy hoạch và phát triển chuỗi điểm du lịch sinh thái ở khu vực phía Đông, trải dài dọc theo triền sông Hồng và sông Đuống, nhằm tạo dựng một môi trường hoàn chỉnh không chỉ phục vụ thu hút đầu tư sản xuất công nghiệp mà còn bảo đảm không gian sống xanh, sạch và bền vững. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành các đại đô thị và khu đô thị hiện đại như Ocean Park 2, Ocean Park 3 và Khu đô thị xanh Ecopark, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn môi trường chất lượng cao nhằm thu hút các nhà đầu tư lớn và đội ngũ chuyên gia quốc tế.
Trọng tâm thứ hai là đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông kết nối liên vùng. Hưng Yên có lợi thế lớn về diện tích tự nhiên 2.500km2 thuộc vùng đồng bằng bằng phẳng và hạ tầng công nghiệp quy mô lớn. Mặc dù vậy, tỉnh cũng đối mặt với một số thách thức về hạ tầng cảng biển, sân bay và hệ thống logistics kết nối. Vì vậy, tỉnh tập trung huy động nguồn lực đầu tư hạ tầng giao thông nhằm nâng cao năng lực hấp thụ vốn FDI trong giai đoạn cạnh tranh quốc tế mới. Tỉnh chủ động tạo dựng các điểm kết nối trong chuỗi liên kết vùng: kết nối với thành phố Hải Phòng – trung tâm logistics quốc tế; kết nối với tỉnh Bắc Ninh và kết nối với tỉnh Ninh Bình – trung tâm du lịch lớn, nhằm định vị rõ ràng vai trò và giá trị của Hưng Yên trong chuỗi cung ứng và liên kết phát triển khu vực.
Nội dung đột phá tiếp theo mà tỉnh quyết tâm thực hiện cả trong ngắn hạn và dài hạn là đổi mới công tác xúc tiến và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Để thu hút được dòng vốn FDI chất lượng cao từ các tập đoàn lớn, tỉnh phối hợp linh hoạt giữa phương thức truyền thống với các phương pháp tiếp cận tiên tiến. Trong khi chờ các cơ quan Trung ương cụ thể hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW bằng hệ thống giải pháp tổng thể, Hưng Yên đã chủ động đổi mới quy trình, thiết lập cơ chế “luồng xanh” hành chính, thay đổi toàn diện phương thức xúc tiến đầu tư và chủ động tiếp cận các nhà đầu tư chiến lược. Mục tiêu là định hình các chuỗi giá trị sản xuất gắn liền với hạ tầng logistics và hệ sinh thái công nghiệp hiện đại của tỉnh.
Tại khu vực phía bắc của tỉnh (địa bàn tỉnh Hưng Yên trước đây), hệ thống hạ tầng công nghiệp đã được đầu tư tập trung với khoảng 17 khu công nghiệp và 20 cụm công nghiệp, tạo thành một chuỗi liên kết quy mô rất lớn. Khi Nghị quyết số 10-NQ/TW đi vào cuộc sống thông qua các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, tôi tin tưởng rằng đây sẽ là một trong những địa bàn trọng điểm để Trung ương xem xét hoạch định, phân bổ chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là trong nhóm 10 tỉnh, thành phố sở hữu hạ tầng công nghiệp vượt trội theo đánh giá của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính).
Vấn đề thứ ba tỉnh tập trung triển khai là nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của địa phương dựa trên tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW nhằm tạo ra những động lực mới hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể, thông qua Quyết định số 1499/QĐ-TTg ban hành ngày 6/8 mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Khu công nghệ cao tỉnh Hưng Yên với quy mô gần 500ha đặt tại trung tâm vùng công nghiệp phía Bắc của tỉnh. Đây là một trong 2 động lực đột phá chiến lược, tạo điểm nhấn quan trọng trong quá trình hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút mạnh mẽ dòng vốn FDI công nghệ cao.
Song song với đó, Hưng Yên kiên trì kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét cho phép áp dụng mô hình thể chế vượt trội trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các nguồn vốn quốc tế. Xuất phát từ thực tiễn sở hữu hạ tầng công nghiệp rất lớn, nếu không có thể chế đặc thù, cơ chế vượt trội theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW thì quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và việc tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của tỉnh sẽ gặp nhiều rào cản. Do đó, tỉnh Hưng Yên đã chủ động xây dựng đề án, báo cáo Chính phủ và Bộ Tài chính từ rất sớm. Hiện Bộ Tài chính đang xem xét, thẩm định, vài chắc chắn tỉnh sẽ quyết tâm theo đuổi để có động lực phát triển bứt phá trong thời gian tới.
Một điểm nhấn quan trọng khác của Nghị quyết số 10-NQ/TW được Hưng Yên xác định là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực – yếu tố then chốt quyết định năng lực hấp thụ vốn FDI. Nguồn nhân lực ở đây không chỉ dừng lại ở lực lượng lao động phục vụ doanh nghiệp FDI, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực quản trị công của hệ thống chính trị. Điều này đòi hỏi sự đổi mới tư duy, nâng cao trình độ quản lý từ Lãnh đạo tỉnh, các sở, ban, ngành cho đến cấp chính quyền cơ sở trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Việc nâng cao năng lực bộ máy chính quyền có ý nghĩa quyết định trong việc tiếp nhận, quản lý hiệu quả dòng vốn đầu tư và đưa các chủ trương của Nghị quyết số 10-NQ/TW vào thực tiễn phát triển của tỉnh Hưng Yên.
Tỉnh xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm và sẽ ban hành nhiều cơ chế, chính sách đồng bộ nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm cả nhân lực quản trị nhà nước và hạ tầng nhân lực kỹ thuật đáp ứng đúng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới.
Trong thời gian tới, việc triển khai đồng bộ Nghị quyết số 10-NQ/TW cùng với Nghị quyết số 57-NQ/TW, các Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, đổi mới giáo dục và y tế sẽ tạo nên một hệ sinh thái phát triển toàn diện, môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi. Qua đó, hình thành nguồn lực tổng hợp thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào chuỗi liên kết của các địa phương, đặc biệt là nhóm 10 tỉnh, thành phố trọng điểm có năng lực thu hút vốn FDI hàng đầu cả nước trong thời gian tới.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Là doanh nghiệp đã đầu tư và gắn bó lâu dài với Việt Nam, ông Binu Jacob đánh giá như thế nào về những tư duy cũng như định hướng mới của Nghị quyết 10? Nestlé nhìn nhận bước chuyển dịch này sẽ tác động như thế nào đến môi trường đầu tư nói chung và các kế hoạch phát triển của tập đoàn nói riêng trong giai đoạn tới tại Việt Nam?

Ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam: Như chúng ta đã thấy, không có nhiều quốc gia trên thế giới có thể đi được chặng đường phát triển xa và đạt được những thành tựu vượt bậc như Việt Nam. Tôi cho rằng chỉ có hai quốc gia đạt được thành tích ấn tượng như vậy, trong đó có Việt Nam.
Một điểm thể hiện rõ bản lĩnh và tầm nhìn của Chính phủ Việt Nam là nhận thức sâu sắc rằng những yếu tố tạo nên thành công trong quá khứ chưa chắc đã bảo đảm cho sự thành công trong tương lai. Đến nay, Việt Nam đã xác định một lộ trình phát triển tương lai hết sức táo bạo và giàu hoài bão, với những mục tiêu chiến lược đến năm 2045 được hoạch định và công bố rất rõ ràng.
Cùng thời điểm này, rất nhiều công ty đầu tư trực tiếp nước ngoài và các tập đoàn đa quốc gia đều hướng tới Việt Nam, không chỉ vì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hay một thị trường tiềm năng với quy mô hàng trăm triệu dân. Họ không tìm đến Việt Nam chỉ vì những lợi ích ngắn hạn. Mặt khác, bản thân Chính phủ Việt Nam qua từng thời kỳ cũng có những mục tiêu ưu tiên khác nhau; chẳng hạn như ở giai đoạn đầu, mục tiêu trọng tâm là giải quyết việc làm, gia tăng nguồn thu ngân sách từ thuế. Tôi cho rằng giai đoạn thu hút đầu tư ban đầu đó hiện nay đã qua. Giai đoạn phát triển tiếp theo sẽ gắn liền với những cam kết đầu tư mang tính dài hạn, bền vững và bao trùm hơn.
Tất cả những chuyển dịch này sẽ mang lại lợi ích thiết thực, đóng góp tích cực hơn cho nền kinh tế Việt Nam cũng như hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.
Dưới góc độ là một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã hiện diện và gắn bó tại Việt Nam trong suốt 30 năm qua, chúng tôi hoàn toàn cam kết và toàn tâm toàn ý với tất cả các hoạt động đầu tư của mình tại đây.
Lý do đầu tiên là bởi tầm nhìn phát triển của Việt Nam đến năm 2045 được định hình vô cùng rõ ràng, trong đó vị trí, vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã được xác định cụ thể. Chúng tôi tự hào là một thành phần, một phần không thể tách rời trong hành trình hướng tới tương lai của Việt Nam.
Lý do thứ hai khiến chúng tôi rất đồng tình và đánh giá cao định hướng của Nghị quyết số 10-NQ/TW là bởi những tư duy mới này hoàn toàn tương thích với chính phương thức mà Tập đoàn Nestlé tiến hành các hoạt động kinh doanh.
Chúng tôi hoạt động không chỉ đơn thuần nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho riêng mình, mà luôn hướng tới việc gia tăng giá trị và mang lại lợi ích thiết thực cho toàn bộ chuỗi cung ứng, bao gồm các đối tác kinh doanh, cộng đồng địa phương, người tiêu dùng, cùng các nhà cung ứng hàng hóa và dịch vụ. Nếu không thực hiện theo phương châm đó, doanh nghiệp có thể thu được một số lợi ích ngắn hạn, nhưng chắc chắn sẽ không thể đạt được sự phát triển bền vững trong dài hạn, và Nestlé cũng đã không thể xây dựng nên một nền móng vững chắc cùng lịch sử phát triển hơn 160 năm qua.
Điểm thứ ba khiến chúng tôi hết sức hoan nghênh những định hướng đổi mới từ Nghị quyết số 10-NQ/TW là tinh thần chia sẻ trách nhiệm và tăng cường mối quan hệ hợp tác đối tác bình đẳng, chặt chẽ. Trong quá khứ, khi hợp tác với nhiều nhà cung ứng và đối tác khác nhau, việc phân định trách nhiệm đôi khi chưa thực sự rõ ràng; chẳng hạn như việc nâng cao năng lực, kỹ năng và đào tạo cho người nông dân sẽ do doanh nghiệp hay Chính phủ đảm nhiệm chính. Tôi cho rằng thời kỳ thiếu rõ ràng đó nay đã đi qua. Hiện tại, vai trò và trách nhiệm của mỗi bên đã được xác định cụ thể hơn nhiều.
Tín hiệu quan trọng đầu tiên mà Nghị quyết số 10-NQ/TW gửi đến cộng đồng doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là: Các nhà đầu tư không nên đến Việt Nam nếu chỉ nhằm tìm kiếm những lợi ích ngắn hạn; ngược lại, Việt Nam luôn rộng mở chào đón các nhà đầu tư đến để hợp tác, đồng hành, cùng tạo ra sức mạnh cộng hưởng và xây dựng các giá trị bền vững trong dài hạn.
Dù vẫn có thể tồn tại một số nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội ngắn hạn, nhưng xét về tổng thể, ngày càng có nhiều doanh nghiệp FDI tìm đến Việt Nam vì các giá trị bền vững, từ đó góp phần hình thành một hệ sinh thái lành mạnh, kết nối hiệu quả giữa khu vực đầu tư nước ngoài và cộng đồng doanh nghiệp trong nước.
Thực tiễn từ câu chuyện của Nestlé là một minh chứng rõ nét. Khi mới bắt đầu hoạt động, chúng tôi hợp tác với một đơn vị vận tải nội địa, năng lực quản trị doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, chúng tôi đã chủ động hợp tác, chia sẻ với họ các phương pháp quản trị tiên tiến, quy trình kiểm soát chất lượng, bảo vệ môi trường, cũng như các kỹ năng kỹ thuật như chuẩn hóa kệ hàng (pallet hóa) nhằm tối ưu hóa tải trọng và năng lực vận chuyển trên mỗi chuyến xe. Thay vì chỉ là mối quan hệ mua bán đơn thuần khi có sẵn đơn hàng, sự đồng hành và hỗ trợ tận tâm từ Nestlé đã giúp đơn vị vận tải này phát triển mạnh mẽ: Từ quy mô ban đầu rất nhỏ với 01 đầu xe, đến nay họ đã sở hữu đội xe lên tới 50 chiếc; từ chỗ chỉ làm đối tác cho Nestlé, họ đã mở rộng hợp tác kinh doanh với 05 doanh nghiệp lớn khác.
Còn rất nhiều ví dụ thực tế tương tự mà tôi có thể chia sẻ, nhưng nhìn một cách tổng quan, tôi khẳng định đây là một chủ trương, định hướng chính sách hết sức đúng đắn và rõ ràng của Việt Nam, chắc chắn sẽ mang lại nhiều tác động tích cực lan tỏa cho cả khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài lẫn nền kinh tế trong nước.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Ông Binu Jacob đã cung cấp một góc nhìn rất giá trị từ chính khu vực doanh nghiệp FDI về Nghị quyết số 10-NQ/TW. Đánh giá đó không chỉ thể hiện một tầm nhìn chiến lược sâu rộng, đúng đắn mà còn khẳng định cam kết mạnh mẽ trong việc đồng hành lâu dài cùng sự phát triển của Việt Nam.
Qua trao đổi, chúng ta thấy rõ một trong những bước chuyển đổi lớn nhất mà Nghị quyết số 10-NQ/TW mang lại chính là sự thay đổi căn bản trong tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam không chỉ thu hút những dự án thuần túy mang vốn vào đầu tư, mà chủ động lựa chọn những đối tác chiến lược có năng lực cùng Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, nâng tầm quốc gia và cam kết đồng hành lâu dài cùng sự phát triển bền vững của đất nước.
NHÓM VẤN ĐỀ 2: FDI VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUỐC GIA
TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Một trong những thay đổi lớn nhất mà Nghị quyết 10 mang lại chính là sự thay đổi trong tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư. Chúng ta không chỉ lựa chọn những dự án mang vốn đến Việt Nam, mà lựa chọn những đối tác có khả năng cùng Việt Nam nâng cao năng lực quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh rằng mục tiêu không phải là phát triển khu vực FDI một cách tách biệt, mà là để khu vực FDI và doanh nghiệp Việt Nam cùng phát triển, cùng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Vậy tiêu chuẩn đánh giá thành công của FDI trong giai đoạn mới sẽ là gì?
Thưa bà Bùi Thu Thủy, đâu là những rào cản lớn nhất khiến sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa đạt kỳ vọng? Và thông qua Nghị quyết, thông điệp mạnh mẽ nhất về một môi trường đầu tư an toàn, hấp dẫn và bền vững mà Việt Nam muốn gửi tới cộng đồng quốc tế là gì, thưa bà?

Bà Bùi Thu Thủy: Qua 40 năm phát triển, tất cả chúng ta đều thừa nhận FDI mang lại nhiều kết quả cho nền kinh tế. Tuy nhiên, thực lực nội lực của nền kinh tế đạt đến mức độ nào, đặc biệt là năng lực của các doanh nghiệp trong nước? Rõ ràng chúng ta vẫn thấy một khoảng cách rất lớn.
Như anh Hiếu đã chia sẻ, không phải đến Nghị quyết 10/NQ-TW chúng ta mới đặt vấn đề tập trung vào chất lượng hay tăng tính liên kết của FDI với doanh nghiệp trong nước. Từ Nghị quyết 50-NQ/TW và trong suốt quá trình quản lý FDI, chúng ta đã rất mong muốn thu hẹp khoảng cách này. Tuy nhiên, đây là một câu chuyện rất khó, không chỉ với Việt Nam. Khi nghiên cứu, chúng tôi thấy nhiều quốc gia cũng gặp khó khăn tương tự khi FDI vào phát triển rất tốt nhưng vẫn tồn tại câu chuyện “hai nền kinh tế”.
Trong quá trình theo dõi, chúng tôi thấy có một số nguyên nhân từ cả hai phía. Ở góc độ các doanh nghiệp FDI, về mặt truyền thống, khi đầu tư sang Việt Nam, họ thường mang theo hệ sinh thái và các nhà cung cấp của họ, đặc biệt là các đối tác Nhật Bản, Hàn Quốc. Khi chúng tôi tiếp xúc và hỏi tại sao không thay đổi, sử dụng các doanh nghiệp phụ trợ trong nước để cắt giảm chi phí, chúng tôi cảm thấy họ rất ngại thay đổi. Khi đã thành thói quen, có mối quan hệ mật thiết và đã đánh giá nhau kỹ lưỡng, họ rất ngại thay đổi đối tác. Đây là một khó khăn cho doanh nghiệp trong nước.
Nhìn từ góc độ doanh nghiệp trong nước, rõ ràng các doanh nghiệp FDI kỳ vọng rất nhiều. Tôi có thời gian dài quản lý công tác phát triển doanh nghiệp trong nước và thừa nhận đến nay doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế để đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp FDI. Doanh nghiệp trong nước chủ yếu quy mô nhỏ và vừa, năng lực rất hạn chế từ vốn đến quản trị và công nghệ. Số lượng doanh nghiệp vừa đủ sẵn sàng tham gia vào chuỗi với các doanh nghiệp FDI không lớn. Điều này hạn chế khả năng hấp thụ.
Thời gian qua chúng ta triển khai nhiều cơ chế chính sách, gần đây nhất Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68/NQ-TW để kích vào các nhóm doanh nghiệp trong nước. Quốc hội cũng đang thẩm định sửa đổi, bổ sung Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hay các chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan và chủ yếu là năng lực đội ngũ doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, vẫn còn khoảng cách chưa thể hấp thụ được dòng vốn.
Đồng thời, chúng tôi thấy giai đoạn trước, FDI vào Việt Nam có hàm lượng công nghệ không quá nhiều, số lượng dự án gia công lắp ráp còn tương đối lớn. Khoảng 10-20 năm gần đây mới bắt đầu chuyển bước, hàm lượng công nghệ đã cao hơn. Tuy nhiên, tốc độ chuyển giao công nghệ của các tập đoàn FDI cho trong nước vẫn chủ yếu là nội bộ doanh nghiệp (từ doanh nghiệp mẹ cho các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam), còn chuyển giao ra bên ngoài thì vẫn rất khó.
Trong Nghị quyết 50/NQ-TW và thời gian qua trước khi có Nghị quyết 10/NQ-TW, chúng ta đã ban hành những cơ chế chính sách khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp FDI dùng nhiều hơn nhà cung ứng trong nước. Ví dụ Quyết định 29/NQ-TW về ưu đãi đầu tư đặc biệt với mức ưu đãi rất hấp dẫn, như mức cao nhất 5% trong 37 năm đối với các dự án công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực trong nước hoặc chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến nay mới có một dự án áp dụng quyết định này. Nghĩa là các chính sách ưu đãi của chúng ta chưa đủ để các doanh nghiệp FDI cảm thấy mặn mà nhận ưu đãi gắn với việc đó. Hay chúng ta có Nghị định 182/2024/NĐ-CP có quy định bù đắp ưu đãi thuế khi áp dụng Thuế tối thiểu toàn cầu bằng hình thức hỗ trợ đầu tư cho doanh nghiệp. Đây là cơ chế rất mới, Bộ Tài chính đang triển khai nhưng còn khó khăn trong câu chuyện giải ngân để đạt được hiệu quả mong muốn của các doanh nghiệp.
Chúng tôi thấy hệ sinh thái các doanh nghiệp phụ trợ trong nước mặc dù đã có nhiều cơ chế chính sách nhưng còn những hạn chế. Chính vì vậy, trong Nghị quyết 10/NQ-TW này, với định hướng của Bộ Chính trị, giải pháp sắp tới của chúng ta phải rất vượt trội và khác biệt mới mong thay đổi được những thực tế trong thời gian qua.
Qua tinh thần Nghị quyết 10/NQ-TW, chúng tôi muốn thể hiện một thông điệp, một cam kết mạnh mẽ đối với cộng đồng nhà đầu tư: Coi kinh tế FDI là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Chính phủ coi kết quả hoạt động, thành tích, thành tựu của FDI không chỉ là vấn đề lợi nhuận doanh nghiệp mà là kết quả trong phát triển kinh tế đất nước. Khi doanh nghiệp thành công thì đó cũng là kết quả phát triển kinh tế của đất nước. Đây là thông điệp khẳng định rất rõ trong Nghị quyết 10/NQ-TW. Tất cả các chính sách chúng tôi hướng tới đều phân vai rõ ràng: các nhà đầu tư nước ngoài có vai trò gì, trách nhiệm gì; đổi lại nhà nước sẽ làm gì từ thể chế, chuẩn bị hạ tầng chiến lược đến nguồn nhân lực để nâng cao năng lực hấp thụ FDI chất lượng cao.
Tiếp tục cập nhật…