Tham dự Phiên họp về phía cơ quan soạn thảo, có Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung. Cùng dự Phiên họp có Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Quang Dũng; Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh; Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước Trần Minh Khương; cùng đại diện Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ban Nội chính Trung ương.

Phát biểu mở đầu Phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh nêu rõ, Phiên họp này diễn ra đúng ngày kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành Ngoại giao Việt Nam (28/8/1945 – 28/8/2026). Thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội chúc đồng chí Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Ngoại giao dồi dào sức khỏe và tiếp tục gặt hái nhiều thành công.
Mở rộng chủ thể ký kết, nâng cao hiệu quả ký kết, thực hiện thỏa thuận quốc tế
Trình bày tóm tắt Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung cho biết, việc xây dựng Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) nhằm thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị (đặc biệt là Nghị quyết 59, Nghị quyết 06) cũng như Chỉ thị 56 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác ký kết, thực hiện các cam kết quốc tế, qua đó đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới.
Đồng thời, dự án luật nhằm khắc phục các hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện Luật Thỏa thuận quốc tế hiện hành theo hướng mở rộng chủ thể ký kết, tăng cường phân cấp phân quyền, đơn giản hóa trình tự thủ tục, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao hiệu quả ký kết, thực hiện thỏa thuận quốc tế, cũng như thực hiện đổi mới tư duy về xây dựng pháp luật.

Về nội dung cơ bản của dự thảo luật, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung cho biết, dự thảo Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) gồm 6 chương, 48 điều, cụ thể:
+ Chương 1 – Quy định chung: Phân biệt rõ hơn giữa thỏa thuận quốc tế và điều ước quốc tế, quy định ngôn ngữ, thể hiện ý định của các bên ký kết (nhất là việc không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế). Đồng thời, hoàn thiện quy định về các bên ký kết của Việt Nam (như Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế thuộc UBND cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp công lập…).
+ Chương 2 – Ký kết thỏa thuận quốc tế: Hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục, hồ sơ đề xuất ký, phân cấp phân quyền và xác định rõ thẩm quyền (ví dụ: Thủ tướng Chính phủ sẽ trình Chủ tịch nước quyết định đối với thỏa thuận quốc tế nhân danh Nhà nước, thay cho việc hiện nay đang là Chính phủ).
+ Chương 3 – Hiệu lực, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt hiệu lực, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện thỏa thuận quốc tế.
+ Chương 4 – Trình tự, thủ tục rút gọn đối với ký kết, sửa đổi, bổ sung, gia hạn thỏa thuận quốc tế: Bổ sung các trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn như: xử lý cấp bách yêu cầu về quốc phòng-an ninh, cứu trợ khẩn cấp, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoặc thỏa thuận mang tính tuyên bố chính trị phù hợp với chủ trương đã được phê duyệt.
+ Chương 5 – Thực hiện thỏa thuận quốc tế và trách nhiệm của các cơ quan: Bổ sung quy định về trách nhiệm xin ý kiến các cơ quan có thẩm quyền của Đảng, trách nhiệm báo cáo, xử lý vi phạm, theo dõi, đôn đốc cũng như việc Bộ Ngoại giao chủ trì phối hợp xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về cam kết quốc tế.
+ Chương 6 – Điều khoản thi hành.

Về điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho biết, sau khi Quốc hội thông qua, các văn bản quy định chi tiết sẽ được ban hành, bao gồm: Nghị định quy định chi tiết hướng dẫn thi hành, Thông tư của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc ký kết thỏa thuận của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống lực lượng vũ trang. Bộ Ngoại giao sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan triển khai thi hành luật, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, kỹ năng về ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế.
Về kiến nghị xây dựng luật, theo Bộ trưởng Lê Hoài Trung, quá trình tổng kết thi hành và soạn thảo dự án đặt ra yêu cầu thay đổi cơ bản phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Căn cứ khoản 4 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) thay thế luật hiện hành tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI theo quy trình một kỳ họp.

Đề nghị nghiên cứu, bổ sung chủ thể ký kết Thỏa thuận quốc tế là UBND cấp xã ngoài khu vực biên giới
Trình bày Báo cáo tóm tắt Thẩm tra sơ bộ dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại, Thượng tướng Lê Tấn Tới cho biết, Thường trực Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Luật để thay thế Luật năm 2020 với các cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn đã được nêu trong Tờ trình của Chính phủ.

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại nhấn mạnh, các nội dung của dự thảo Luật phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong tình hình mới; sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
“Dự thảo Luật bảo đảm tính hợp hiến, cơ bản bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật và đáp ứng yêu cầu về bảo đảm quốc phòng, an ninh. Dự thảo Luật cơ bản phù hợp với các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại thống nhất dự án Luật đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2”, Thượng tướng Lê Tấn Tới nêu rõ.

Về một số nội dung cụ thể, Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cơ bản tán thành bổ sung Ban Quản lý thuộc UBND cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND cấp tỉnh và một số cơ quan, đơn vị khác là bên ký kết Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu hợp tác chuyên môn, xúc tiến đầu tư, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, dự thảo cần quy định hoặc giao Chính phủ quy định tiêu chí, điều kiện về chức năng, nhu cầu hợp tác, năng lực tổ chức thực hiện và khả năng bảo đảm nguồn lực; làm rõ phạm vi được ký kết, trách nhiệm của cơ quan chủ quản và cơ chế kiểm tra, hậu kiểm.
Đối với UBND cấp xã, qua kết quả khảo sát, ý kiến của nhiều tỉnh, thành ghi nhận nhiều kiến nghị về mở rộng thẩm quyền ký kết cho UBND cấp xã ngoài khu vực biên giới, xuất phát từ thực tiễn nhu cầu hợp tác quốc tế ngày càng cao của địa phương; những vướng mắc khi chưa có quy định điều chỉnh và những khả năng đáp ứng về nhân lực, nghiệp vụ và kinh phí cần được bảo đảm trong tổ chức thực hiện tại cấp xã. Tờ trình của Chính phủ nhận định chủ trương sắp xếp chính quyền địa phương và bỏ cấp huyện làm gia tăng nhu cầu ký kết Thỏa thuận quốc tế của UBND cấp xã. “Do đó, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, bổ sung chủ thể ký kết TTQT là UBND cấp xã ngoài khu vực biên giới tại khoản 2 Điều 2 của dự thảo Luật, đồng thời rà soát các quy định để bảo đảm việc ký kết và thực hiện các TTQT ở cấp xã”, Thượng tướng Lê Tấn Tới nêu rõ.

Về ký điện tử Thỏa thuận quốc tế, Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định về cơ chế kiểm tra, xác thực và công nhận chữ ký điện tử của bên ký kết nước ngoài. Đồng thời, đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo làm rõ lý do loại trừ việc ký điện tử đối với Thỏa thuận quốc tế nhân danh Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ tại khoản 2 Điều 8.
Bảo đảm không phát sinh khoảng trống pháp lý hoặc gián đoạn việc thực hiện Thỏa thuận quốc tế
Về hồ sơ lấy ý kiến và nội dung cho ý kiến đối với đề xuất ký kết Thỏa thuận quốc tế, thực tiễn cho thấy thiếu nguồn lực dẫn đến một số Thỏa thuận quốc tế chậm hoặc khó triển khai. Vì vậy, đề nghị hồ sơ lấy ý kiến phải làm rõ khả năng bảo đảm nguồn lực, nhất là đối với Thỏa thuận quốc tế có thời hạn dài hoặc cần bố trí ngân sách nhiều năm; đồng thời sửa đổi tương ứng với nội dung cơ quan được lấy ý kiến cần đánh giá (khoản 3 Điều 27). Đối với Thỏa thuận quốc tế thuộc lĩnh vực lao động, y tế, giáo dục, an sinh xã hội, cân nhắc yêu cầu đánh giá tác động đối với nhóm yếu thế và tác động giới khi nội dung thỏa thuận có liên quan. Đồng thời, nên quy định trách nhiệm giải trình đối với ý kiến khác nhau hoặc không được tiếp thu, nhất là Thỏa thuận quốc tế có nội dung quan trọng hoặc liên quan nhiều ngành, lĩnh vực, nhằm nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của cơ quan đề xuất ký kết.

Về tổ chức thực hiện và quản lý nhà nước sau khi ký kết, đề nghị làm rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì trong xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực, theo dõi, đôn đốc, đánh giá hiệu quả và báo cáo kết quả thực hiện; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan và trách nhiệm xử lý khi chậm triển khai hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận.
Về điều khoản chuyển tiếp và văn bản quy định chi tiết, Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại đề nghị chỉnh lý đồng bộ dự thảo Luật với dự thảo Nghị định và các dự thảo Thông tư. Các văn bản quy định chi tiết cần được hoàn thiện, gửi kèm hồ sơ khi trình Quốc hội và ban hành cùng thời điểm Luật có hiệu lực, bảo đảm không phát sinh khoảng trống pháp lý hoặc gián đoạn việc thực hiện Thỏa thuận quốc tế.
Minh Khuê, Cao Hoàng