Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Không còn ý kiến khác nhau về các nội dung
Trình bày Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, về nguyên tắc áp dụng pháp luật (điểm a khoản 2 Điều 1 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước), đa số ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành với phương án như dự thảo Luật do Chính phủ trình. Theo đó, trường hợp luật khác quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì việc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước áp dụng theo luật đó. Một số ý kiến đề nghị giữ như quy định của Luật hiện hành.
Trên cơ sở tiếp thu đa số ý kiến của đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, mặc dù Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) hiện hành quy định việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo Luật này, song trên thực tế một số luật chuyên ngành ban hành sau đã có quy định khác về phạm vi TNBTCNN, dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất làm phát sinh vướng mắc trong quá trình thi hành Luật.

Do đó, việc sửa đổi khoản 1 Điều 4 nhằm xác lập rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật, đồng thời bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp, kịp thời trong xác định phạm vi TNBTCNN trước yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia và thực tiễn phát sinh trong các lĩnh vực đặc thù, chuyên biệt như quốc phòng, an ninh, đầu tư, đất đai, thuế.
Theo đó, Luật TNBTCNN tiếp tục giữ vai trò là luật khung nhưng không “đóng khung” phạm vi TNBTCNN, tạo cơ chế để Quốc hội kịp thời quyết định vấn đề này tại luật chuyên ngành, hạn chế khoảng trống pháp lý, đáp ứng yêu cầu phản ứng chính sách kịp thời và tránh tình trạng thường xuyên phải sửa đổi Luật TNBTCNN. Quy định này cơ bản mang tính kỹ thuật lập pháp, chỉ xác lập cơ chế áp dụng pháp luật, không trực tiếp mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi TNBTCNN. Việc mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi TNBTCNN tại luật chuyên ngành vẫn phải được Quốc hội xem xét, đánh giá kỹ lưỡng theo quy định khi ban hành luật đó.
“Đồng thời, Dự thảo Luật sửa đổi quy định này nhằm từng bước thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị tại Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó yêu cầu bảo đảm hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ và xác định nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành so với quy phạm pháp luật chung khi có quy định khác nhau về cùng một vấn đề”, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nêu rõ.

Về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý thuế (khoản 6 Điều 1 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 9 Điều 17 của Luật TNBTCNN), Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cho biết, nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành với phương án sửa đổi, bổ sung như dự thảo Luật do Chính phủ trình; đồng thời cũng có nhiều ý kiến đề nghị giữ phạm vi TNBTCNN trong lĩnh vực quản lý thuế như quy định tại khoản 9 Điều 17 của Luật TNBTCNN hiện hành.
Với nội dung này, tiếp thu một phần ý kiến đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, Luật Quản lý thuế năm 2019 quy định việc bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế thực hiện theo pháp luật về TNBTCNN. Theo đó, khoản 9 Điều 17 Luật TNBTCNN xác định phạm vi bồi thường đối với một số hành vi cụ thể về thuế, phí, lệ phí.
Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế năm 2025 quy định cơ quan, công chức quản lý thuế phải bồi thường theo pháp luật về TNBTCNN trong trường hợp gây thiệt hại trái pháp luật. Như vậy, Luật Quản lý thuế năm 2025 đã mở rộng phạm vi TNBTCNN theo hướng không giới hạn ở các hành vi được liệt kê tại khoản 9 Điều 17 Luật TNBTCNN, dẫn đến sự thiếu thống nhất, chồng chéo giữa Luật Quản lý thuế năm 2025 và Luật TNBTCNN.

Để khắc phục tình trạng này, dự thảo Luật do Chính phủ trình Quốc hội đầu kỳ họp đề xuất sửa đổi quy định tại khoản 9 Điều 17 của Luật TNBTCNN theo hướng dẫn chiếu đến Luật Quản lý thuế năm 2025. Tuy nhiên, do quá trình thảo luận tại Tổ và Hội trường về vấn đề này còn nhiều ý kiến khác nhau, Chính phủ đề nghị tiếp thu theo hướng trước mắt chưa sửa khoản 9 Điều 17 của Luật TNBTCNN để tiếp tục nghiên cứu thận trọng, kỹ lưỡng.
Bên cạnh đó, để khắc phục sự thiếu thống nhất giữa Luật TNBTCNN và Luật Quản lý thuế năm 2025, tiềm ẩn rủi ro pháp lý trong thực tiễn áp dụng, Chính phủ đề nghị sửa điểm n khoản 1 Điều 37, điểm g khoản 1 Điều 38 của Luật Quản lý thuế năm 2025 như thể hiện tại khoản 2 Điều 2 của dự thảo Luật.
Cần xác định Luật TNBTCNN là đạo luật chuyên ngành trong lĩnh vực bồi thường nhà nước
Báo cáo ý kiến về việc tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật do Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp (UBPLTP) Phan Chí Hiếu trình bày cho biết, Thường trực UBPLTP nhận thấy, Chính phủ đã nghiêm túc tiếp thu nhiều ý kiến của ĐBQH để hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TNBTCNN.

Đối với các nội dung đề nghị tiếp tục xem xét, hoàn thiện, về nguyên tắc áp dụng pháp luật (điểm a khoản 2 Điều 1 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 của Luật TNBTCNN), Thường trực UBPLTP đề nghị giữ nguyên quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật TNBTCNN với các lý do:
Một là, cần xác định Luật TNBTCNN là đạo luật chuyên ngành trong lĩnh vực bồi thường nhà nước, bao gồm cả các quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (các trường hợp Nhà nước phải bồi thường) và các quy định về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường để bảo đảm kiểm soát chặt chẽ phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Hai là, nếu Luật TNBTCNN cho phép các luật khác quy định về phạm vi bồi thường của Nhà nước mà nội dung đó không đủ cụ thể trong xác định hành vi, trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì có khả năng tạo “điểm nghẽn” trong thực thi pháp luật.
Ba là, về kỹ thuật lập pháp, trong trường hợp các luật khác cần bổ sung hoặc sửa đổi phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì Luật đó có thể sửa đổi, bổ sung tương ứng trong Luật TNBTCNN và thực hiện việc hợp nhất nội dung sửa đổi, bổ sung này trong Luật TNBTCNN theo quy định của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.
Bốn là, từ phương diện thi hành pháp luật, nếu phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định trong Luật TNBTCNN thì sẽ bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, thuận lợi trong tiếp cận và thực thi pháp luật.

Về sửa đổi Điều 37 và Điều 38 của Luật Quản lý thuế (khoản 2 Điều 2 của dự thảo Luật), Thường trực UBPLTP cho rằng, việc giữ nguyên quy định tại khoản 9 Điều 17 của Luật TNBTCNN không dẫn đến việc phải sửa quy định của Luật Quản lý thuế với lý do mà Cơ quan chủ trì soạn thảo nêu là để khắc phục sự thiếu thống nhất giữa Luật Quản lý thuế và Luật TNBTCNN, bởi quy định của Luật Quản lý thuế chỉ dẫn chiếu đến pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trong khi Luật TNBTCNN là luật xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nên việc Luật TNBTCNN hiện hành quy định 04 nhóm hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực quản lý thuế làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là phù hợp, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Về vấn đề khác, Thường trực UBPLTP đề nghị không giao cơ quan giải quyết bồi thường xem xét, quyết định công việc, quy trình, thủ tục trong từng trường hợp giải quyết lại (khoản 3a được bổ sung vào sau khoản 3 Điều 48 của Luật TNBTCNN). Luật cần giao quy định chi tiết nội dung này để bảo đảm tính chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ, có cơ chế xử lý trường hợp có ý kiến khác nhau giữa cơ quan giải quyết bồi thường và người yêu cầu bồi thường về công việc, quy trình, thủ tục cần giải quyết lại.

Trong khuôn khổ phiên họp, nhiều thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đóng góp ý kiến về nguyên tắc áp dụng pháp luật (điểm a khoản 2 Điều 1 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 của Luật TNBTCNN). Trong đó, cần quy định rõ Luật TNBTCNN là đạo luật chuyên ngành trong lĩnh vực bồi thường Nhà nước hay các luật khác là luật chuyên ngành quy định bồi thường Nhà nước.
Một số ý kiến của thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, không sửa đổi khoản 9 Điều 17 của Luật TNBTCNN mà sửa đổi Điều 37 và Điều 38 của Luật Quản lý thuế (khoản 2 Điều 2 của dự thảo Luật) như Chính phủ trình.

Ngoài ra, các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhấn mạnh, cần diễn đạt lại khoản 3a được bổ sung vào sau khoản 3 Điều 48 của Luật TNBTCNN để dễ hiểu, tránh hiểu lầm, tránh áp dụng không thống nhất; đảm bảo đồng bộ, có cơ chế xử lý trường hợp có ý kiến khác nhau giữa cơ quan giải quyết bồi thường và người yêu cầu bồi thường về công việc, quy trình, thủ tục cần giải quyết lại.

Bích Lan, Hiền Trang, Vũ Hiếu